CUỘC CÁCH MẠNG IRAN 1978-1979
Nguyễn Tiến Cảnh
Bài này có mục đích tìm những giải đáp cho những câu hỏi
chính tống quát:
-Cuộc cách mạng ở Iran là gì?
-Những lý do nào đưa tới cuộc cách mạng?
-Nhiệm vụ của Hồi Giáo Shia trong cuộc cách mạng này?
-Những điều gì đã xẩy ra sau cách mạng này?
Cuộc nổi dậy của nhân dân Iran vào năm 1978-1979 đã lật độ
chế dộ quân chủ vào ngày 11-2-1979 và thành lập chế độ Công hòa Hồi Giáo. Phong
trào lan rộng trong mọi tầng lớp -từ thường dân phía tả đến tôn giáo cánh hữu
nhằm chấm dứt chế độ quân chủ vua Shah và sự can thiệp của Tây phương.
Cuộc cách mạng mang màu sắc Hồi Giáo Shia mà những người ủng
hộ được coi là yếu tố duy nhất và cơ bản của văn hóa Iran. Cuối cùng dưới sự chỉ
dẫn của Ruhollah Khomeini, một học giả tôn giáo uyên thâm và là người đã từng
có thời chỉ trích quốc vương gay gắt. Ông đã đề xuất một giải pháp thay thế là
chính quyền nhân dân đặt dưới quyền giám sát của một thần quyền.
QUAN HỆ MỸ-IRAN
Nói về quan hệ Mỹ–Iran là như một chuỗi dài của sự phản bội,
đối đầu bằng lời nói và bạo lực. Mặc dù chương trình chính trị của Khomeini và
vai trò lãnh đạo của ông được đưa ra trưng cầu dân ý và nhận được sự ủng hộ rộng
rãi, tầng lớp giáo sĩ mới nắm quyền đã nhanh chóng gạt bỏ các đồng minh cánh tả,
giới trí thức và cả những thành phần trung dung. Dần dần, phe bảo thủ cứng rắn
củng cố quyền kiểm soát đối với các thiết chế của Cộng hòa Hồi giáo.
Sau cuộc bầu cử tổng thống gây tranh cãi năm 2009 và làn
sóng biểu tình lớn bùng nổ sau đó, khả năng xuất hiện một cuộc “cách mạng chống
lại chính cuộc Cách mạng” ngày càng được nhắc đến, khi các phong trào phản
kháng chống chính phủ tiếp tục tái diễn nhiều lần trong những năm sau.
MỞ MÀN CHO CUỘC CÁCH MẠNG
Cuôc cách mạng 1979 -tập hợp tất cả mọi thành phần xã hội
khác nhau- đã có một nguồn gốc lâu dài trong lịch sử Iran. Những nhóm này gồm
giáo sĩ, điền chủ, trí thức và thương gia đã kết hợp với nhau trước đó theo hiến
pháp cách mạng năm 1905-1911. Tuy nhiên những cố gắng cải tổ đó thường xuyên bị
cản trở vì những căng thẳng xã hội cũng như những can thiệp từ ngoài vào như
Nga Sô, Anh quốc và sau này là Hoa Kỳ. Anh quốc đã giúp Reza Sha Pahlavi thiết
lập chế độ quân chủ năm 1921. Cùng với Nga, Anh quốc lúc đó đã đẩy Reza Shah đi
lưu đầy vào năm 1941, và đưa con trai ông là Mohammad Reza Shah lên ngôi. Năm
1953 một cuộc tranh chấp quyền lực giữa Mohammad Reza Shah và Thủ tướng
Mohammad Mosaddegh xẫy ra do sự can thiệp của cơ quan tình báo Hoa Kỳ-CIA và cơ
quan gián điệp Anh-M16 đã dàn cảnh một cuộc đảo chính chống lại chính phủ của
Mosaddegh.
Những năm sau đó Mohammad Reza Shah hủy bỏ quốc hội và
tung ra một cuộc cách mạng trắng- một chương trình hiện đại hóa lấn lướt có
tính cực đoan đã làm đảo lộn sự giàu sang và ảnh hưởng của các điền chủ và giới
giáo sĩ, làm rối loạn nền kinh tế nông nghiệp, nhanh chóng đưa tới tình trạng
đô thị hóa và Tây Phương hóa, nhanh chóng dẫn tới dân chủ và nhân quyền. Chương
trình đã thành công về mặt kinh tế nhưng lợi lộc không được phân chia đồng đều
dù hiệu quả thay đổi về mặt xã hội và cơ chế tổ chức đã lan rộng rõ ràng. Việc
chống đối chính sách của nhà vua thì đã bùng nổ suốt cả thập niên 1970 rồi -khi
mà sự bất ổn về tiền bạc trong việc tiêu thụ dầu khí của Tây Phương đang đe dọa
nền kinh tế quốc gia- thì nhà vua vẫn nhắm vào những kế hoạch và chương trình cải
tổ quá tốn kém. Mười năm trời kinh tế phát triển vượt mực, chánh phủ tiêu dùng
quá nhiều và việc tăng vọt giá dầu đã tạo tình trạng lạm phát và ngừng trệ việc
mua bán cũng như cách sống cơ bản bình thường của người dân.
Thêm vào những khó khăn chồng chất về kinh tế, thì áp lực
chính trị xã hội từ chế độ hoàng gia shah đã gia tăng cả thập niên 1970. Lối
thoát tham gia chính trị lúc đó thì hiếm có, và những phe phái chống đối như
National Front (liên minh những người quốc gia, giáo sĩ, và các đảng cánh tả
không cộng sản) và đảng Tudeh theo Sô Viết thì bị đẩy ra ngoài vòng pháp luật.
Phản đối chính trị và xã hội thì thường bị kiểm duyệt và theo dõi hoặc sách nhiễu;
giam giữ bất hợp pháp và tra tấn thì thường xuyên.
Đây là lần đầu tiên trong hơn một nửa thế kỷ, thành phần
trí thức thế tục -phần lớn bị mê đã hồ hỡi do lời kêu gọi chiến đấu vì dân của
Ayatollah Ruhollah Khomeini, một cựu giáo sư triết học ở Qom đã bị lưu đầy năm
1964 sau khi lên tiếng phản đối gay gắt chương trình cải cách mới đây của vua
Shah- đã từ bỏ mục đích của họ là làm giảm quyền uy và quyền lực của các học giả
tôn giáo Shia, vì họ nghĩ là với sự trợ giúp của thần quyền thì vua shah có thể
bị lật đổ.
Trong khung cảnh đó những thành viên của phong trào
National Front, đảng Tudeh và nhiều nhóm nhỏ tách rời nhau trước đây bây giờ
liên kết với nhóm giáo sĩ (ulama) thành một khối phản đối chế độ vua shah rất rộng
rãi. Khomeini tiếp tục giảng trong khi lưu đầy về ác quỉ của chế độ Pahlavi, tố
cáo vua shah là vô tôn giáo và quị lụy phục vụ quyền lực ngoại bang. Hàng ngàn
băng nhựa (tape) và bài nói truyện của Khomeini được đưa vào Iran trong suốt thập
niên 1970 khi mà số công nhân nghèo Iran và thất nghiệp đang gia tăng -nhất là
di dân mới đến từ vùng quê đã mất niềm tin và thất vọng vì một Iran đô thị hóa
tân kỳ lại trống rỗng văn hóa hoặc suy yếu không đủ mạnh để định hình bản sắc,
giá trị và đời sống tinh thần của cộng đồng- đã quay lại lấy giáo quyền làm điểm
hướng dẫn. Sự phụ thuộc của quốc vương vào Hoa Kỳ, các mối quan hệ mật thiết của
hoàng gia với Israel — quốc gia khi đó đang trong tình trạng thù địch kéo dài với
các nước Ả Rập mà đa số dân theo Hồi giáo — cùng với chính sách kinh tế thiếu
suy xét của chế độ đã như đổ thêm dầu vào lửa làm cho những phản đối bất đồng
nơi quần chúng tăng lên và hung hăng hơn.
Ngoài ra với sự phát triển kinh tế ồ ạt và hạ tầng cơ sở
được tân hóa nhanh chóng, tất cả mọi sự đã trở nên tốt đẹp tại Iran lúc bấy giờ.
Nhưng chưa đầy một thế hệ, Iran đã thay đổi từ một xã hội truyền thống bảo thủ
và đồng quê thành một xã hội kỹ nghệ tân tiến và đô thị. Cái cảm giác ôm đồm
quá nhiều cả kỹ nghệ lẫn nông nghiệp quá sớm như vậy đã khiến nhà nước/chính phủ,
hoặc vì tha hóa tham nhũng hoặc thiếu khả năng đã không thực hiện được những hứa
hẹn đã gây ra những cuộc biểu tình chống đối chế độ vào năm 1978.
CÁCH MẠNG BÙNG NỔ
Tóm lại, cuộc cách mạng tháng Giêng năm 1978 bùng phát vì
dân chúng coi những lời chống đối Khomeini là vu khống -theo báo Ettela’at ở
Teheran- cả ngàn sinh viên học sinh các trường tôn giáo đã xuống đường, theo
sau có cả hàng ngàn người trẻ Iran -mà phần lớn là di dân mới đến từ vùng quê
còn đang thất nghiệp- bắt đầu phản đối sự thái quá của chế độ. Hoàng gia shah
đã yếu vì ung thư lại bị choáng váng bởi những thù địch chống đối mình, được
thúc đẩy bởi nhượng bộ và chèn ép, coi việc phản đối là một phần do âm mưu quốc
tế chống lại mình. Nhiều người đã bị lực lượng nhà nước giết chết trong các cuộc
biểu tình chống chế độ đã như đổ thêm dầu vào lửa trong những cuộc bạo động ở một
quốc gia Hồi Giáo Shia mà tử đạo giữ vị trí căn bản để biểu lộ niềm tin tôn
giáo của mình. Những trường hợp tử vong được tiếp nối bởi các cuộc biểu tình nhằm
tưởng niệm mốc 40 ngày để tang theo truyền thống Shi’a; và tại những cuộc biểu
tình ấy lại xảy ra thêm thương vong, khiến cái chết và sự phản kháng liên tục
thúc đẩy lẫn nhau. Như vậy, bất chấp mọi nỗ lực của chính quyền, một vòng xoáy
bạo lực đã khởi phát, trong đó cái chết tiếp tục thổi bùng các cuộc biểu tình,
và mọi hình thức phản kháng -từ cánh tả thế tục đến cánh hữu tôn giáo- đều bị
cuốn vào trong chiếc áo choàng của Hồi giáo Shi’a và được đội vương miện bằng
khẩu hiệu cách mạng Allahu akbar (“Thiên Chúa vĩ đại”), vang lên trong các cuộc
biểu tình và vọng xuống từ những mái nhà vào những buổi chiều tối khi mặt trời
lặn.
Bạo động và bất ổn tiếp tục leo thang. Ngày 8 tháng 9 chế
độ ban hành lệnh thiết quân luật và quân đội nổ súng vào các cuộc biểu tình ở
Teheran đã có hàng chục hàng trăm người bị giết. Nhiều tuần lễ sau, công nhân
nhà nước bắt đầu đình công. Ngày 31 tháng 10 công nhân dầu mỏ cũng đình công
dưa kỹ nghệ dầu tới mức báo động phải ngừng. Các cuôc xuống đường biểu tình tiếp
tục lan rộng lớn; và ngày 10 tháng 12 có cả hàng trăm ngàn người xuống đường chỉ
ở nguyên Teheran mà thôi.
Trong lúc còn luu đầy, Khomeini đã phối hợp sự gia tăng
chống đối này -trước nhất từ Iraq va sau 1978 từ Pháp- đòi hỏi phải bắt vua
shah. Tháng Giêng 1979 theo nguồn tin chính thức gọi là “nghỉ hè” vua shah và
gia đình đã rời Iran. Hội dồng nhiếp chánh được thiết lập để điều hành quốc gia
trong khi nhà vua vắng mặt cũng không có khả năng điều hành, và thủ tướng
Shahpur Bakhtiar đã nhanh chóng được chỉ định trước đó bởi vua shah trước khi
ra đi, cũng không thể hoàn thành lời hứa với cả những đồng nghiệp cũ của mình
trong National Front cũng như Khomeini. Dân chúng biểu tình đông đến cả triệu
người tại Tehran, cho thấy sự ũng hộ Khomeini rông lớn như cuồng điên thế nào
vào ngày 1 tháng 2. Mười ngày sau, ngày 11-2 quân đội Iran tuyên bố trung lập,
chế độ hoàng gia shah bị lật đổ hoàn toàn. Bakhtiar lẩn trốn và cuối cùng đi
lưu đầy tại Pháp.
CÁCH MẠNG THÀNH CÔNG VÀ GIAI ĐOẠN CỦNG CỐ QUYỀN LỰC
Sau biến cố này, ngày 1 tháng 4 tiếp theo cuộc ủng hộ rất
hồ hỡi trong một cuộc trưng cầu dân ý, Khomeini đã tuyên bố Iran là một nứơc Cộng
Hòa Hồi Giáo. Các thành phần trong hàng giáo sĩ nhanh chóng hành động để loại bỏ
những đồng minh cũ thuộc cánh tả, phe dân tộc chủ nghĩa và giới trí thức khỏi mọi
vị trí quyền lực trong chế độ mới, đồng thời áp đặt việc quay trở lại các giá trị
xã hội bảo thủ. Đạo luật Bảo vệ Gia đình (1967; được sửa đổi đáng kể năm 1975),
vốn trao thêm các bảo đảm và quyền lợi cho phụ nữ trong hôn nhân, bị tuyên bố
vô hiệu. Các đội cách mạng đặt tại đền thờ, được gọi là Komiteh (tiếng Ba Tư: “ủy
ban”), tuần tra trên đường phố để cưỡng chế các quy tắc Hồi giáo về trang phục
và hành vi, đồng thời thi hành những hình thức ‘công lý’ tức thời đối với những
ai bị xem là kẻ thù của cách mạng. Trong phần lớn năm 1979, Lực lượng Vệ binh
Cách mạng — khi ấy vẫn chỉ là một dân quân tôn giáo phi chính quy do Khomeini
thành lập nhằm ngăn chặn khả năng xảy ra một cuộc đảo chính do CIA hậu thuẫn
như thời Mosaddegh — cũng tiến hành các hoạt động tương tự, nhằm đe dọa và đàn
áp những nhóm chính trị không nằm dưới sự kiểm soát của Hội đồng Cách mạng cầm
quyền và đảng chị em của nó, Đảng Cộng hòa Hồi giáo, đều là các tổ chức giáo sĩ
trung thành với Khomeini. Mức độ bạo lực và tàn nhẫn thường vượt quá những gì từng
xảy ra dưới thời quốc vương.”
Các lực lượng dân quân và giới giáo sĩ hậu thuẫn họ đã nỗ
lực tối đa để trấn áp ảnh hưởng văn hóa phương Tây; đối mặt với sự đàn áp và bạo
lực, nhiều thành phần tinh hoa được giáo dục theo kiểu phương Tây đã rời khỏi đất
nước. Tình cảm chống phương Tây này cuối cùng bộc lộ rõ trong vụ bắt giữ 66 con
tin tại đại sứ quán Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1979 bởi một nhóm người biểu tình
Iran yêu cầu dẫn độ quốc vương, người khi đó đang điều trị y tế tại Hoa Kỳ.
Thông qua vụ chiếm giữ đại sứ quán, những người ủng hộ Khomeini có thể tuyên bố
rằng họ ‘chống đế quốc’ không kém gì phe cánh tả. Điều này cuối cùng trao cho họ
khả năng đàn áp phần lớn các đối thủ thuộc phe cánh tả và ôn hòa trong chế độ.
Hội đồng Chuyên gia (Majles-e Khobregan), vốn bị giới
giáo sĩ áp đảo, đã đưa một bản hiến pháp mới ra trưng cầu dân ý vào tháng sau,
và được thông qua với tỷ lệ áp đảo. Bản hiến pháp mới thiết lập một chính quyền
tôn giáo dựa trên tầm nhìn velayat-e faqih (tiếng Ba Tư: ‘chính quyền của vị
pháp gia’) của Khomeini và trao quyền lực rộng lớn cho rahbar, tức lãnh tụ; người
đầu tiên giữ chức vụ này chính là Khomeini. Những nhân vật trung dung, như Thủ
tướng lâm thời Mehdi Bazargan và tổng thống đầu tiên của nước cộng hòa,
Abolhasan Bani-Sadr, những người phản đối việc giữ con tin, dần bị loại khỏi
quyền lực bởi phe bảo thủ trong chính phủ, những người đặt nghi vấn về lòng nhiệt
thành cách mạng của họ.
CỘNG HÒA HỒI GIÁO
Sau cách mạng 1979 là Giai đoạn củng cố quyền lực, đánh dấu
một chuyển biến sâu sắc, trong đó giới giáo sĩ nhanh chóng tái định hình cấu
trúc quyền lực và thiết lập một trật tự chính trị tôn giáo mới. Những lực lượng
từng là đồng minh trong cuộc đấu tranh chống chế độ quân chủ — bao gồm trí thức,
cánh tả thế tục và các phong trào dân tộc chủ nghĩa — bị loại khỏi trung tâm
quyền lực. Đây là một hiện tượng thường thấy trong các cuộc cách mạng hiện đại:
khi giai đoạn huy động quần chúng kết thúc, lực lượng có tổ chức và có tính
chính danh tôn giáo mạnh nhất sẽ tìm cách độc quyền hóa quyền lực.
1.Tái cấu trúc quyền lực và sự trỗi dậy của hàng giáo sĩ
Ngay sau khi chế độ cũ sụp đổ, giới giáo sĩ thân cận với
Khomeini khai triển một chiến lược loại trừ có hệ thống.
•Các luật tiến bộ về gia đình, vốn mở rộng quyền của phụ
nữ trong hôn nhân, bị hủy bỏ để khẳng định sự trở lại của trật tự xã hội Hồi
giáo truyền thống.
•Các Komiteh – những đội dân quân đặt tại đền thờ – trở
thành công cụ cưỡng chế đạo đức và trấn áp chính trị, đóng vai trò như “cảnh
sát cách mạng” không chính thức.
•Lực lượng Vệ binh Cách mạng (IRGC), ban đầu chỉ là một
dân quân tôn giáo nhằm ngăn chặn nguy cơ đảo chính, nhanh chóng trở thành một
thiết chế quyền lực độc lập, có nhiệm vụ đàn áp các nhóm chính trị không nằm dưới
sự kiểm soát của Hội đồng Cách mạng. Điều đáng chú ý là mức độ bạo lực trong
giai đoạn này không giảm so với thời quân chủ, mà thậm chí còn vượt quá đà xa
hơn nữa, vì nó được biện minh bằng ngôn ngữ tôn giáo và tính chính danh cách mạng.
2. Tôn giáo như là công cụ chính trị và bài Tây phương.
Một trong những động lực quan trọng của giai đoạn hậu
cách mạng là tinh thần bài Tây Phương, được diễn giải như một phần của cuộc đấu
tranh chống “đế quốc”. Điều này dẫn đến:
•Sự rời bỏ đất nước của tầng lớp tinh hoa được giáo dục
theo mô hình phương Tây.
•Việc áp đặt các chuẩn mực văn hóa Hồi giáo lên đời sống
công cộng.
•Sự kiện chiếm giữ Đại sứ quán Hoa Kỳ năm 1979, vốn trở
thành biểu tượng cho lập trường chống đế quốc và giúp phe giáo sĩ củng cố tính
chính danh trước cánh tả.
Trong bối cảnh đó, tôn giáo không chỉ là niềm tin cá nhân
mà trở thành ngôn ngữ chính trị, là công cụ để định nghĩa “ai thuộc về cách mạng”
và “ai là kẻ thù”.
3. Hiến pháp mới và thể chế hóa quyền lực tôn giáo
Hội đồng Chuyên gia, với thành phần áp đảo là giáo sĩ, đã
đưa ra bản hiến pháp mới và được thông qua với tỷ lệ cao. Hiến pháp này:
•Thiết lập mô hình velayat-e faqih – “chính quyền của vị
pháp gia”, trong đó quyền lực tối cao thuộc về một giáo sĩ có thẩm quyền tôn
giáo cao nhất.
•Trao quyền lực rộng lớn cho rahbar (lãnh tụ tối cao), vị
trí đầu tiên do chính Khomeini nắm giữ.
•Tạo ra một hệ thống trong đó tính chính danh tôn giáo vượt
lên trên tính chính danh dân chủ. Những nhân vật trung dung như Mehdi Bazargan
hay Abolhasan Bani-Sadr, dù giữ các chức vụ quan trọng, dần bị gạt ra ngoài vì
bị xem là thiếu “nhiệt huyết cách mạng”. Điều này cho thấy sự chuyển dịch từ một
liên minh đa lực lượng sang một nhà nước thần quyền tập trung, nơi quyền lực
chính trị gắn chặt với thẩm quyền tôn giáo.
4. Ý nghĩa chính trị–tôn giáo của giai đoạn này -Giai đoạn
hậu cách mạng 1979 không chỉ là sự thay đổi chế độ, mà là sự tái định nghĩa bản
chất của quyền lực:
•Tôn giáo trở thành nền tảng của tính chính danh chính trị.
•Bạo lực được biện minh bằng ngôn ngữ thiêng liêng.
•Nhà nước thần quyền được thể chế hóa thông qua hiến pháp
và các thiết chế mới.
•Các lực lượng thế tục, dù từng góp phần vào cách mạng, bị
loại khỏi đời sống chính trị. Điều này tạo ra một mô hình đặc thù: một nhà nước
hiện đại vận hành bằng cấu trúc cách mạng nhưng dựa trên thẩm quyền tôn giáo, kết
hợp giữa huy động quần chúng, kiểm soát đạo đức và độc quyền diễn giải tôn
giáo.
Tóm lại, nền Cộng Hòa Hồi Giáo sau cách mạng 1979 ở Iran
là một chế độ thần quyền, dẫn đầu bởi hàng giáo sỹ hệ phái Shia nhóm 12
(Twelver Shi ‘ah) của Hồi Giáo.
1. Hình thức nhà nước. Sau Cách mạng Iran năm 1979, Iran
trở thành một nhà nước thần quyền do giới giáo sĩ Shiʿah Nhị thập (Twelver
Shiʿism) lãnh đạo. Việc củng cố mô hình “Cộng hòa Hồi giáo” diễn ra trong nhiều
năm, đặc biệt dưới áp lực từ bất ổn trong nước và chiến tranh Iran–Iraq
(1980–88). Quyền lực tập trung vào Lãnh tụ Tối cao (rahbar).
2. Thành phần dân chủ trong hệ thống Iran có Quốc hội
(Majles) do dân bầu, chịu trách nhiệm lập pháp và ngân sách. Tuy nhiên, các đảng
phái bị kiểm soát chặt chẽ và không đóng vai trò lớn.
Giới chính trị được phân thành ba khuynh hướng:
•Nguyên tắc (conservatives/principlists): bảo vệ các giá
trị cách mạng và chống ảnh hưởng ngoại lai.
•Cải cách (reformists): muốn nới lỏng hệ thống và hợp tác
hơn trong đối ngoại.
•Trung dung (centrists/moderates): không thuộc hai nhóm
trên.
Iran là chế độ tổng thống, tổng thống do dân bầu và nắm
quyền hành pháp. Trước 1989, Iran có thêm chức thủ tướng, nhưng chức này bị bãi
bỏ sau sửa đổi hiến pháp.
3. Cơ chế giám sát tôn giáo: Mọi bầu cử và quan chức dân
cử đều chịu sự giám sát của Hội đồng Giám hộ (Council of Guardians), cơ quan có
quyền xét duyệt luật và ứng viên.
Hội đồng gồm 12 học giả Hồi giáo:
• 6 người do Lãnh tụ Tối cao bổ nhiệm
• 6 người do Quốc hội phê chuẩn theo đề cử của ngành tư
pháp (mà Chánh án cũng do Lãnh tụ Tối cao bổ nhiệm). Khi có tranh chấp giữa Quốc
hội và Hội đồng Giám hộ, vấn đề được chuyển lên Hội đồng Chuẩn đoán Lợi ích Hệ
thống (Expediency Council), cơ quan cũng do Lãnh tụ Tối cao chỉ định.
4. Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC). Lực lượng
này trực thuộc Lãnh tụ Tối cao.
•Trong chiến tranh Iran–Iraq, IRGC trở thành lực lượng
quân sự chủ đạo.
•Từ thập niên 1990, IRGC mở rộng sang lĩnh vực kinh tế.
•Từ thập niên 2000, IRGC gia tăng ảnh hưởng chính trị.
Đến thập niên 2020, vai trò thống trị của IRGC thể hiện
rõ trong việc trấn áp các phong trào phản kháng như phong trào “Phụ nữ, Cuộc sống,
Tự do” (2022–23), biểu tình năm 2026, và các động thái chính trị trong chiến
tranh Iran năm 2026.
Xem vậy cuộc cách mạng đã thành công đưa tới một thể chế
Cộng Hòa Hồi Giáo hệ phái Shia là một chế độ thần quyền đã tóm gọn mọi quyền lực
cho dù tên gọi là Cộng Hòa nhưng người cầm đầu lại là một giáo chủ. Đem vào tôn
giáo tín điều tử đạo để trị dân, một loại độc tài với “niềm tin” thì phải chăng
là một loại siêu độc tài, cộng sản cũng không sách kịp. Chủ đích của họ là thống
trị thế giới thì thử hỏi nếu họ thành công thì con người và nhân loại sẽ thế
nào? Tổng thống D. J. Trump với chiến tranh Iran buộc chính quyền Khomeini từ bỏ
khí giới hạt nhân giết người quả là hợp lý và đúng đạo đức!
Fleming Island, Florida
May 2, 2026
NTC